Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Con riêng có được thừa kế tài sản không?

Tư vấn pháp luật:
(Dân trí) – Tôi đang rất hoang mang vì phát hiện chồng có con riêng. Hiện tôi có căn nhà 4 tầng, do vợ chồng tôi mua trong hôn nhân. Tài sản chung của vợ chồng tôi con riêng có quyền thừa hưởng không? Xin cảm ơn. (Sử Thúy Hằng; Email:hangts@gmail.com).
Ảnh minh họa
Trảlời:
Chào bạn! Theo bạn trình bày thì nhà đất này vợ chồng bạn mua trong thời kỳ hôn nhân, do vậy được xác định là tài sản chung vợ chồng và vợ chồng bạn có quyền định đoạt ngang nhau về nhà đất này. Việc yêu cầu chia tài sản chỉ đặt ra khi một trong hai bên yêu cầu. Do vậy, con riêng của chồng không được yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng bạn.
Tuy nhiên, con riêng của chồng bạn sẽ được quyền khởi kiện chia di sản thừa kế nếu chồng bạn mất đi không để lại di chúc. Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) quy định: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”.
Theo quy định nêu trên thì dù là con riêng của chồng bạn thì vẫn được hưởng thừa kế theo pháp luật và cùng hàng thừa kế với bạn và các con bạn. Để tránh xảy ra mâu thuẫn sau này, tốt nhất bạn cùng chồng nên tới phòng công chứng làm biên bản thỏa thuận với nội dung chồng bạn đồng ý đó là tài sản riêng của bạn hoặc có thể vợ chồng bạn làm hợp đồng tặng cho con bạn. Để tiến hành các thủ tục nêu trên bạn phải liên hệ tới phòng công chứng tại nơi có nhà đất, bạn phải mang theo CMND; hộ khẩu; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; trường hợp nếu vợ chồng bạn tặng cho con thì phải có CMND của con bạn và giấy khai sinh của con bạn.
Như vậy, trường hợp nếu bạn tiến hành thủ tục công chứng nêu trên thì bạn sẽ tránh được mâu thuẫn về chia di sản thừa kế sau này và cũng đảm bảo quyền lợi cho bạn và con bạn.
Luật sư Vũ Thị Hiên
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình – Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166
Ban Bạn đọc


Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Thủ tục xin cấp lại giấy khai sinh bản chính?

Tư vấn pháp luật:
(Dân trí) – Tôi làm mất giấy khai sinh của con tôi. Nay tôi muốn làm lại thì phải làm thủ tục gì? Xin cảm ơn Quý báo (Chu Thị Vân Anh, Hà Giang).

Ảnh minh họa
Trả lời:
 
Điều 62 Nghị định 158/2008/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định về Cấp lại bản chính Giấy khai sinh và thẩm quyền cấp lại bản chính Giấy khai sinh như sau:
 
“1. Trong trường hợp bản chính Giấy khai sinh bị mất, hư hỏng hoặc phải ghi chú quá nhiều nội dung do được thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch hoặc điều chỉnh hộ tịch mà Sổ đăng ký khai sinh còn lưu trữ được, thì được cấp lại bản chính Giấy khai sinh.
 
2. Ủy ban nhân dân cấp huyện, nơi lưu trữ Sổ đăng ký khai sinh thực hiện việc cấp lại bản chính Giấy khai sinh.
 
3. Sở Tư pháp tỉnh (thành phố), nơi trước đây đương sự đã đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài thực hiện việc cấp lại bản chính Giấy khai sinh”.
 
Như vậy, nếu làm mất giấy khai sinh của con bạn có thể đến Ủy ban nhân dân cấp huyện, nơi lưu trữ Sổ đăng ký khai sinh để xin cấp lại bản chính giấy khai sinh cho con bạn.

Về thủ tục cấp lại bản chính Giấy khai sinh thì Điều 63 Nghị định 158 có quy định như sau:
 
“1. Người yêu cầu cấp lại bản chính Giấy khai sinh phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và bản chính Giấy khai sinh cũ (nếu có).
 
2. Sau khi nhận Tờ khai, cán bộ Tư pháp của Phòng Tư pháp hoặc cán bộ hộ tịch của Sở Tư pháp căn cứ vào Sổ đăng ký khai sinh đang lưu trữ để ghi vào nội dung bản chính Giấy khai sinh và ghi rõ "Cấp lại" dưới tiêu đề của bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Giám đốc Sở Tư pháp ký và cấp cho đương sự một bản chính Giấy khai sinh mới, thu hồi lại Giấy khai sinh cũ (nếu có). Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ "Đã cấp lại bản chính Giấy khai sinh ngày... tháng... năm...".
 
3. Nguyên tắc ghi nội dung bản chính giấy khai sinh khi cấp lại được áp dụng tương tự quy định tại Điều 61 của Nghị định này.
 
4. Sau khi cấp lại bản chính Giấy khai sinh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm gửi thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã; nơi đã đăng ký, khai sinh để ghi chú tiếp vào Sổ đăng ký khai sinh lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã.”

Luật sư Vũ Hải Lý
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166
Ban Bạn đọc

Luật sư Nguyễn Thị Phượng, Công ty luật TNHH Đại Việt phân tích các khía cạnh pháp lý của vụ việc: "Hai cơ quan cùng thụ lý một việc tại Bắc Ninh"

Sau khi Báo PLVN đăng tải loạt bài về việc TAND TP Bắc Ninh thụ lý một phần vụ án đang được Công an tỉnh Bắc Ninh điều tra, Luật sư Nguyễn Thị PhượngCông ty luật TNHH Đại Việt phân tích các khía cạnh pháp lý của vụ việc và cho rằng không thể tách vụ án để xử dân sự…
Luật sư Phương cho biết: theo tôi, việc TAND TP Bắc Ninh thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nếu người khởi kiện có Đơn khởi kiện và có các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp theo quy định của Bộ luật tố tụng. Bên cạnh đó, TAND TP Bắc Ninh là Tòa án nơi có bất động sản nên tranh chấp này do TAND TP Bắc Ninh thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 33, Điều 35 và Điều 171 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự: Theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì: “Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Trong trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”.
Như vậy, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự nhưng trong vụ án này có rất nhiều vấn đề đang trong giai đoạn điều tra chưa có kết luận nên không thể tách ra giải quyết riêng được: Thứ nhất, theo thông tin ông bà Chiến, Hiền cung cấp, sau khi mua nhà gia đình ông bà đã tiến hành sửa chữa, đóng thuế đất và chuyển về sinh sống ổn định cho đến nay ( có xác nhận của chính quyền và người dân địa phương).
Tại thời điểm  hiện tại, vợ chồng ông Việt, bà Tâm vẫn xác nhận vợ chồng ông bà chỉ bán nhà cho vợ chồng ông Chiến, bà Hiền và không viết Giấy hay ký bán nhà đất này cho bất cứ ai khác. Ông Việt còn đề nghị cơ quan chức năng điều tra làm rõ giấy tờ và sổ đỏ đang đứng tên ông Tiến, bà Hoa nên Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất của ông bà Tiến, Hoa cần phải được cơ quan công an điều tra làm rõ. Bên cạnh đó nếu cho rằng vợ chồng ông Tiến, bà Hoa mua nhà đất của vợ chồng ông Việt, bà Tâm thì tại sao ông Tiến, bà Hoa lại không yêu cầu vợ chồng ông Việt, bà Tâm bàn giao nhà ngay?.
Theo cung cấp của ông Chiến, bà Hiền và giấy xác nhận của ông Việt thì vợ chồng ông Việt, bà Tâm không bán nhà đất cho ông bà Tiến, Hoa mà chỉ thế chấp giấy tờ nhà đất này để vay tiền. Như vậy, cần phải làm rõ có việc vay tiền và thế chấp giấy tờ nhà đất của vợ chồng ông Việt, bà Tâm cho ông Tiến, bà Hoa không vì rất có thể vợ chồng bà Hoa, ông Tiến cũng là một trong những người bị hại trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản này.
 Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cấp cho ông Tiến, bà Hoa là ngày 24/5/2011 trong khi đó giấy tờ chuyền nhượng của ông Chiến, bà Hiền được lập ngày 18/09/2010. Như vậy, nhà đất này đồng thời được bán cho hai người với các thời điểm khác nhau. Nếu xét về mốc thời gian nhà đất này đã được bán cho ông Chiến, bà Hiền trước.
Cho đến nay, Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất viết tay giữa ông Chiến, bà Hiền và vợ chồng ông Việt, bà Tâm mặc dù chưa làm đúng thủ tục theo quy định của pháp luật về việc công chứng, chứng thực nhưng đã được hai bên thừa nhận và không có bất cứ tranh chấp gì nên vẫn có giá trị các bên tiếp tục tiến hành hoàn tất thủ tục theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Hợp đồng này cũng chưa có bất cứ quyết định bản án có hiệu lực nào tuyên hợp đồng vô hiệu, do đó, không thể khẳng định ông Chiến, bà Hiền là người bị hại trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản của vợ chồng ông Việt, bà Tâm mà người bị hại ở đây rất có thể lại là vợ chồng ông Tiến, bà Hoa. 
Về vấn đề ngôi nhà là tang vật hay tài sản liên quan: Việc ông Việt, bà Tâm dùng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà bán và thế chấp cho hai người là một trong các công cụ phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác nên nhà đất này phải là tang vật của vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Từ những vấn đề nêu trên tôi cho rằng việc giải quyết vấn đề dân sự đòi nhà nêu trên không thể tách riêng để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Vì vậy TAND nên căn cứ Khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng Dân sự ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án đợi kết quả giải quyết vụ án khác liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án.
Thanh - Thư (ghi)

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Giải quyết vấn đề nuôi con như thế nào khi ly hôn?

(Dân trí) - Xin hỏi: khi chia tay, người vợ đang mang thai đứa con thứ hai, con lớn hơn 2 tuổi thì người vợ có được quyền nuôi đứa con lớn không? (Bích, Email: bichthuy2402@gmail.com).
Trả lời:
1. Trường hợp thứ nhất: Nếu chị không đồng ý ly hôn thì chồng chị không có quyền đơn phương xin ly hôn, vì theo quy định tại Khoản 2, Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Luật HNGĐ) thì : “Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn”.
2. Trường hợp thứ hai: Nếu chị là người đơn phương xin ly hôn hoặc hai anh chị cùng thống nhất yêu cầu Tòa án công nhận việc thuận tình ly hôn thì sẽ giải quyết như sau:
-  Nếu chị là người đơn phương xin ly hôn thì chị phải chứng minh cho Tòa án tình trạng vợ chồng anh chị thỏa mãn quy định tại Điều 89 Luật HNGD:Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Về quyền nuôi con: Điều 92 Luật HNGĐ quy định:
Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác”.
Như vậy, tại thời điểm chị yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án ly hôn thì cháu bé thứ nhất được hơn  2 tuổi, do vậy về nguyên tắc chị có quyền nuôi con. Còn cháu bé thứ hai sau khi sinh chị cũng được quyền nuôi con.
Tuy nhiên, để được Tòa án quyết định cho chị được nuôi, chị cần chứng minh với Tòa án khả năng của mình về việc có thể nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai con như: tình hình sức khỏe, điều kiện về chỗ ở, việc làm, thu nhập hàng tháng, điều kiện chăm sóc, giáo dục, đồng thời không bị rơi vào trường hợp bị hạn chế quyền nuôi con theo quy định tại Điều 41 Luật HNGD: “Khi cha, mẹ đã bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối  sống đồi truỵ, xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì tuỳ từng trường hợp cụ thể Toà án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 42 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ một năm đến năm năm. Toà án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này”
Nếu anh chị thuận tình ly hôn thì việc giao con cho ai nuôi sẽ do anh chị tự thỏa thuận và được Tòa án xem xét, công nhận.
Luật sư Vũ Thị Hiên
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

Thiếu căn cứ pháp lý, hợp đồng có bị vô hiệu không?

(Dân trí) - Bên A bán nhà cho bên B, hợp đồng mua bán nhà đất ký ngày 18/07/2002 nhưng Giấy chủ quyền có sau khi ký hợp đồng. Bên cạnh đó, hợp đồng mua bán nhà không có công chứng. Như vậy, hợp đồng có bị vô hiệu không?
Ngoài ra, giấy chủ quyền đứng tên 2 người đồng sở hữu nhưng chỉ có một người đứng tên mua bán chuyển nhượng. (Anh Vu, email: av120903@yahoo.com).

Ảnh minh họa
Trả lời:
Tại Nghị quyết Số: 45/2005/NQ-QH11 về việc thi hành BLDS 2005 thì trường hợp của bạn do hợp đồng ký kết vào 18/7/2002 vì vậy sẽ áp dụng BLDS 1995.
Tại khoản 2 điều 400 BLDS 1995 quy định: “Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thực hiện bằng văn bản, phải được chứng nhận của công chứng nhà nước, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép, thì phải tuân theo các quy định này”.
Tại Điều 443 hình thức hợp đồng mua bán nhà ở (BLDS 1995) quy định:Hợp đồng mua bán nhà ở phải được thành lập bằng văn bản có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của UBND cấp có thẩm quyền”.
Trong trường hợp này thì bạn đã vi phạm Điều 136 BLDS 1995, khoản 4 điều 131 BLDS 1995 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, cũng như Điều 139 BLDS 1995.
Điều 139 (BLDS 1995) Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức: “Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự vô hiệu, nếu không được thể hiện bằng văn bản, không được Công chứng nhà nước chứng nhận, không được chứng thực, đăng ký hoặc cho phép, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện, thì giao dịch vô hiệu. Bên có lỗi làm cho giao dịch vô hiệu phải bồi thường thiệt hại”.
Điều 445 (BLDS 1995) bán nhà thuộc quyền sỡ hữu chung quy định: “Việc bán nhà thuộc quyền sỡ hữu chung hợp nhất của nhiều người phải được sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các chủ sỡ hữu”. 
Như vậy, đã đủ căn cứ để tuyên hợp đồng mua bán nhà kia là vô hiệu.
Luật sư Ngô Thị Lựu
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966